Recipe for Research Publication Success

Recipe for Research Publication Success [Infographic] | AJE | American Journal Experts
//oss.maxcdn.com/libs/html5shiv/3.7.0/html5shiv.js
//oss.maxcdn.com/libs/respond.js/1.4.2/respond.min.js

Creating a successful research manuscript is a lengthy and involved process. The process should not be rushed, and many of the aspects that make up a great paper must be carefully considered. In addition to the “recipe” below, we have included links to resources that will help as you develop the various sections of your manuscript for publication. Bon Appétit!

Ingredients
1-3 Years worth of meaningful research results

4,000 – 6,000 artisanal words (carefully crafted)

1 heaping cup of relevant references (50-80)

1 catchy title

5 – 7 dollops of visually appealing figures


Process

1

Arrange results and data in a logical order.

Process

2

Combine results with explanatory text to whip up a first draft. Fold in relevant citations as needed.

PRO TIP:Try prepping the sections in this order: M&M, Results, Intro, Discussion, Abstract, & Conclusions.*

Whip up a first draft

3

Fill carefully with eye-catching figures.

PRO TIP:Add a dash of color when it enhances your point.*

Process

4

Smooth out transitions and flow of the text.

Whip up a first draft

5

Top with a catchy title.*

Process

6

Bake for 272 days or so until accepted.

Whip up a first draft
Posted in Education/Research/S&T policy | Leave a comment

Startup- những bước chuẩn bị và chiến lược chung

 

Một trong một số những thôi thúc của tôi về tương lai là bước chân vào lĩnh vực kinh doanh – startup. Tôi không có lý do cụ thể nào để làm điều đó, chỉ là muốn được làm vì nó cung cấp giá trị cho mọi người và có thể tạo ra công ăn, việc làm để giúp đỡ nhiều người khác. Và thế là tôi tham gia một vài course về entrepreneur. Tuy chưa học cụ thể nhưng đại khái có thể đưa ra cho các bạn một số điểm bắt đầu như thế này: để khởi sự một công việc kinh doanh bạn có thể dựa vào thiết kế thinking theo kiểu 5 bước hoặc 3 bước nhưng trước hết phải bắt đầu từ những sự thấu hiểu về khó khăn của người tiêu dùng trong hiện trạng về một vấn đề nào đó, giá trị bạn có thể mang đến cho người tiêu dùng so với những lựa chọn hiện tại và lợi ích của người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ hay sản phảm của bạn.

<Entrepreneurship definitions>

Hình ảnh về món Nấm hương nướng tại một nhà hàng Ý, thành phố Daejeon- tuy nướng nhưng vẫn giữ độ giòn, dai, tươi như trước khi thu hái.18083857_1641691132511692_1261408674_o

Và trong lúc trầm ngâm xem lại nhịp điệu công việc kinh doanh của một người bạn đã thành công trong ngành công nghiệp thực phẩm, tôi rút ra một chuỗi các bước về phát triển thương hiệu, chiếm lĩnh thị trường và đóng gói các khâu trong chuỗi kinh doanh từ chế biến sản phẩm đến lưu thông và  các khâu trung gian cho đến đưa đến tay người tiêu dùng. Theo thứ tự từng bước, tôi sẽ trinh bày chi tiết

  1. Lựa chọn mặt hàng kinh doanh. Trong bước này, các bạn phải trả lời câu hỏi sản phẩm gì, công nghệ chế biến sản phẩm như thế nào. Đi cùng với nó là các câu hỏi phụ như cách thức giữ kín công nghệ, tương ứng với thị trường gia tăng thì cách thức để chế biến sản phẩm và lưu thông như thế nào
  2. Hình thức kinh doanh. Tôi muốn nói đến cách thức bạn muốn đưa sản phẩm của mình tới tay người tiêu dùng ( end users), có nghĩa là bạn muốn sản phẩm của mình được biết tới và mua theo cách thức nào. Nếu bạn muốn dựa vào hệ thống các siêu thị để phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì thương hiệu sẽ không có giá trị nổi bật. Nếu bạn muốn dùng một chuỗi các cửa hàng kiểu franchise thì đó là cách mà McDonal, starbuck đang làm và thương hiệu của họ rất có giá trị, họ có thể dùng để sang nhượng, mở rộng thị trường rất linh hoạt. Kết hợp cả 2 có thể sẽ là một lựa chọn tốt hơn trong điều kiện hệ thống siêu thị và các đại lý phân phối có thể bổ sung và hỗ trợ tốt   

Trong các bước này, bước 1 có tác dụng như bước nền móng và tiền đề trong khi bước 2 sẽ là phần tập trung nhất để mở rộng thị trường, gia tăng tiêu thụ và tăng doanh thu cũng như là bước đệm để mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang các mảng khác. Một khi bạn đã thành công cho một mô hình kinh doanh thì bạn sẽ dễ dàng thiết lập thành công cho một mô hình kinh doanh khác. Vì thế mà các công ty thường đa dạng hoá các sản phẩm của mình, thậm chi có công ty còn tạo ra một công ty con khác vờ để đối đầu nhưng thực tế là để đa đạng hoá lựa chọn cho người tiêu dùng và chiến dịch truyền thông, quảng cáo sẽ kết hợp để đạt được lợi ích, nâng tầm thương hiệu của cả 2 công ty lên theo kiểu win-win.

Mở rộng thị trường là giấc mơ của hầu hết các công ty trong chiến dịch kinh doanh của họ. ổn định sản phẩm từ chất lượng, thương hiệu, phục vụ là các quá trinh song song được thể hiện qua văn hoá doanh nghiệp và văn hoá doanh nhân, nhưng có 2 yếu tố tôi muốn nhắc đến ở đây mà người làm startup cần suy nghĩ thấu đáo

  1. Kỹ năng quản lý- management and administration, các bộ quy tắc và quy định của công ty, ứng xử trong mọi khâu luôn luôn cần thiết và là căn cứ cơ bản cho việc vận hành và quản lý. Bên cạnh đó, kỹ năng tạo hứng khởi cho nhân viên, tạo phong trào làm việc và cống hiến luôn luôn quan trọng. Điều chỉnh môi trường làm việc trong trạng thái tích cực, chủ động rất quan trọng để khích lệ nhân viên làm việc hăng say và hiệu quả hơn. Tất cả điều này không thể làm tráck nhiệm của người sáng lập nhưng là những điều cần được lưu tâm.
  2. Đóng gói các khâu kinh doanh là một công việc quan trọng vừa để đảm bảo an toàn bảo mật của công nghệ, vừa để gia tăng hiệu quả công việc. Một trong những khâu đóng gói quan trọng là đóng gói tiêu chuẩn các cửa hàng phục vụ cuối cùng. Hãy nhìn vào chuỗi cửa hàng McDonnal hay Starbuck để học hỏi họ, cách bố trí khu vực order, thu tiền, giao sản phẩm, cách bày trí cửa hàng, nhạc, ánh sáng, hình thức sản phẩm, các tiêu chuẩn định lượng cho chất lượng đều phải được liệt kê chi tiết, tỷ mỉ. Đóng gói Package được tiêu chuẩn các cửa hảng bản sản phẩm là tiêu chí quan trọng và chiến lược trong việc mở rộng thị trường và nâng cao giá trị thương hiệu.

Trong những bài khác về vấn đề này, tôi sẽ tiếp tục đi sâu và rộng hơn cùng những số liệu cụ thể.

Posted in Business/Entrepreneur/start-up, Uncategorized | Leave a comment

Daejeon- 대전- Thành phố khoa học và công nghệ

Daejeon- 대전- Thành phố khoa học và công nghệ

Tôi có dịp đến Daejeon vài lần, đa số là hội thảo và course training nên không phải lo chuyện ăn ở vì ở đây họ đã chuẩn bị hết cả nên tôi có thêm thời gian để chiêm nghiệm lại những chuyến đi của mình.

Vài lần tuy chưa nhiều nhưng từ góc độ của một người làm về nghiên cứu  và quan tâm đến nghiên cứu thì đây thực sự là xứ sở của khoa học và công nghệ.

Daejeon có 21 viện GRI- Government research institute với nhiều trung tâm hội nghị, trường đại học lớn. Một  thành phố nằm trong 3 thành phố metro lớn nhất Hàn Quốc với mức độ đầu tư về cơ sở hạ  tầng không quá lớn nhưng được quy hoạch cực tốt và không gian cực kỳ thoáng đãng. 

Trung tâm hội nghị nằm tại tầng 11 của Daedok Biz Tech Center, trụ sở giáo dục  của KIRD, thành lập từ 2007, là trung tâm truyền tải lại hệ thống chính sách và kế hoạch RnD của chính phủ và các hoạt động liên quan. Trong lần training này, chúng tôi được giới thiệu về cấu trúc quản lý các lớp từ trên ( blue house) xuống đến các GRIs, các ngành công nghiệp S&T và driving force được ưu tiên  của chính phủ HQ trong giai đoạn tới cùng 9 dự án được ưu tiên với mức đầu tư 2 tỷ usd trong thời gian tới. Chúng tôi được lần nữa được giới thiệu về KIST như là mother of GRIs và những duyên nợ cũng như đóng góp của KIST vào quá trinh phát triển khoa học kỹ thuật S&T của HQ cũng như RnD trong hơn 50 năm phát triển không ngừng nghỉ để trở thành top 10 viện tốt nhất thế giới. 

Trong một buổi sáng  có chút thời gian riêng, tôi tranh thủ đi dạo vùng xung quanh khu vực hội thảo vừa để thăm thú, vừa để luyện tập gân cốt một chút. Khu vực xung quanh không hiện đại nhưng phong cách và yên bình. Tôi đang bước về phía một trường tiểu học, bỗng giật mình vì 3 cậu bé đi ngay sát bên cạnh, thì ra một cậu nhặt được một đồng 1 nghìn krw và hét to, hân hoan đầy phấn khich. Nhìn bộ mặt ấy tôi không thể không phì cười. Đi lại gần cổng trường, một cô giáo trẻ đã đứng sẵn để đón các em, một cậu bạn chạy lại báo với cô rằng họ nhặt được tiền và cô giáo dặn dò phải báo với cô chủ nhiệm trước khi mấy cậu bé nghịch ngợm biến mất sau cổng trường.

Tôi đặc biệt chú ý đến căn nhà đối diện bên kia ngã tư nhỏ này, mới sáng sớm nhưng tôi đã thấy ngoài bãi cỏ một cái rổ với những cây dại và đôi găng tay, có vẻ như khcu vườn vừa được dọn dẹp và chăm sóc. Dường như đây là ngôi nhà mà tôi yêu thích và mong muốn trong tương lai sau này.

Ben cạnh là khu đất trồng rau nhỏ gọn gàng, những cây hành đang trổ những bông hoa hình trái tim rồi nở tung xoè ra đẹp như nắm bông trắng muốt nhẹ nhàng.

Lịch trình của ban tổ chức xắp xếp cho chúng tôi nghị tại khách sạn Gaon resident và ăn tôi tại một nhà hàng nằm bên cạnh, đó một nhà hàng Ý nhỏ bé đến nỗi tôi thấy ngập ngừng khi bước vào. Nhưng sau khi gặp những người bạn cùng hội thảo và bắt đầu câu chuyện thì mọi việc trở nên dễ dàng hơn. Chúng tôi chia sẻ vài lát bánh mỳ nướng mềm và thơm ăn kèm món soup màu tim nhạt có vị phô mai. Món nấm nướng sốt hành thật sự rất ấn tượng vì các loại nấm đều tươi ngon, thơm và không hề bị ra nước hay thu nhỏ như cách nấu thông thường ở nhà.

Cậu bạn người bugra khiêm tốn và cư xử cực kỳ chuẩn mực, cô gái Malaysia tên Lin nhưng có vóc dáng và khuôn mặt của một cô gái Hàn Quốc chính hiệu. Họ làm tôi yên lòng và tự tin hơn. Đối diện với tôi là cậu bạn người Ấn Độ với một vài bối rối riêng và bên cạnh cũng là một người bạn Ấn Độ khác, họ đều mới đến và còn khá lạ lẫm với văn hoá và ngôn ngữ ở đây. Một người bạn Iran rất chăm chỉ nói chuyện và tiếp xúc với mọi người làm tôi nhầm tưởng rằng cậu ấy là một người Do Thái. Chúng tôi không có thời gian tiếp xúc nhiều nhưng đều gặp nhau ở một điểm là muốn tạo một network để cho những kế hoạch sau này.

Đáng tiếc chúng tôi chưa chụp ảnh chung cùng nhau nhưng dù sao cũng đã có một cách liên lạc được thiết lập.

Chuyến đi để lại trong tôi nhiều dư âm của những con người làm việc nghiêm túc và chủ động đón trước tương lai, về chiều dài phát triển quá nhanh và mạnh mẽ của HQ trong hơn 60 năm sau chiến tranh với mức GDP tăng 1000 lần. Những con số nói lên tất cả, những gương mặt và thái độ tích  cực có sức lan toả qúa sâu sắc.

Bất cứ lúc nào, nếu có cách tiếp cận và thái độ đúng, bạn có thể học được rất nhiểu từ mọi người xung quanh.   

Posted in Tours and discovers | Leave a comment

Discovering Seoul: 1 – Seoul dream forest

Seoul dream forest

Hàn Quốc có nhiều cảnh đẹp khắp mọi nơi, từ Bắc xuống Nam vì nhiệt độ trung bình tăng dần, từ Đông sang Tây vì nhiệt độ nước biển Đông lạnh hơn bên Tây mặc dù trong xanh hơn.

Hôm nay chúng ta cùng khám phá một công viên đẹp của Hàn Quốc có tên gọi 복서울 대공원-hay còn gọi là rừng ước mơ-dream forest.

Công viên là một quần thể các công trình nhân tạo và tự nhiên. Khu vui chơi chính nằm giữa 2 ngọn núi gồm hồ nước, các lối đi lại, nhà hoạt động thiếu nhi, sân chơi cho trẻ em. Khu còn lại dùng cho việc leo núi, vận động thể dục thể thao, được cấu trúc từ rừng cây trên 2 ngọn núi với các lối đi lại vòng quanh và các trạm dừng chân kèm theo các thiết bị hỗ trợ tập thể dục từ nhẹ nhàng như xoay mông, xoay tay đến tập tạ, đu người.

Mùa xuân là mùa được chào đón nhất trong năm bởi môt mùa đông lạnh kéo dài làm mọi người đều buồn chán. Mùa xuân được đánh dấu bằng vài trận mưa nhỏ và sự trở lại của một màu xanh non tràn đầy sức sống bắt đầu tô điểm nhờ những cây cỏ dại  trên khắp các ngả đường, tiếp theo sẽ là những màu sắc rực rỡ tưng bừng khắp nơi trong cái nắng ấm áp đầy mong chờ.  Hoa anh đào như là dấu hiệu chính thức của mùa xuân, như một làm sóng tưng bừng hân hoan dồn dập từ Nam ra Bắc.

Dream forest vào mùa xuân khắp nơi đều đẹp rực rỡ và đầy sức sống. Được nhìn những đứa trẻ vui cười hân hoan bên bố mẹ là khoảnh khắc khó có thể đánh đổi trong cuộc đời. Và đó là những thứ chúng ta có thể thấy ở Dream forest những ngày đầu xuân.

  1. Những loai hoa, cỏ dại và thảo mộc

2. Hồ trung tâm và cảnh quan 4 phía nhìn từ trên núi dành cho người đi bộ

3. Khu qui chơi cho trẻ em

4. Vườn thú nhỏ và những con hươu sao

17916204_1632166443464161_505714217_o

Posted in Tours and discovers, Uncategorized | Leave a comment

GS với TS đang làm gì ? Tại sao lại đem so họ với nông dân ?

Bài này không dành cho việc ngại đọc.
Việt Nam là nước đi sau về khoa học và công nghệ (KH-CN). Ta du nhập cách làm KH-CN, ban đầu từ các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông u (ở miền Bắc), gần đây từ các nước tư bản u-Mỹ. Ý thức hệ và thiết chế của hai hệ thống hoàn toàn khác nhau, song tư duy và cách nghiên cứu khoa học lại khá giống nhau. Học họ, nhưng ta chẳng giống ai, có chăng chỉ là những bề nổi bên ngoài, như các danh hiệu giáo sư, tiến sỹ, còn cốt lõi bên trong thì theo cách tư duy của mình- GS Phạm Duy Hiển.

Từ chối chuẩn mực phổ quát trong nghiên cứu khoa học

Ở nước ngoài, chức danh tiến sỹ khẳng định anh đã vượt qua những đòi hỏi gắt gao về học thuật để có thể bắt đầu theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, hoặc giảng dạy đại học. Ở ta, thiếu tấm bằng tiến sỹ chẳng những không vênh vang được với thiên hạ mà không thể chen chân vào nhiều chức quan. Có nơi còn quy định 50% cán bộ thuộc thành ủy quản lý phải có bằng tiến sỹ (TuanVietnam.net, 29/10/2012).
Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020 Việt Nam phải có sáu vạn tiến sỹ để đáp ứng quy mô mở rộng hệ thống đại học với 450 sinh viên trên một vạn dân, không cần biết hiện có bao nhiêu người hướng dẫn và phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu.
Cách quy hoạch ngược đời này đang lạm phát ồ ạt bằng tiến sỹ, thực học không cần, chuẩn mực khoa học bị gạt bỏ, chưa kể bằng dởm, viết luận án thuê, đang tràn lan (ANTĐ, 28/10/2012).
Ở nước ngoài, giáo sư phải là người sáng tạo ra tri thức mới qua hàng loạt công trình được đồng nghiệp khắp nơi trên thế giới trích dẫn và sử dụng. Ở ta, trong Quy chế bổ nhiệm giáo sư mới sửa đổi gần đây để tiến gần hơn đến thông lệ quốc tế vẫn chưa có điểm sàn tối thiểu, chẳng hạn yêu cầu giáo sư phải có một vài bài báo quốc tế.
Giáo sư ở ta được tính điểm khoa học chủ yếu dựa trên 900 ấn phẩm nội địa, nhưng chưa có tạp chí nào trong số này, kể cả những tạp chí tiếng Anh, lọt vào Web of Knowledge của Thomson Reuter (ISI). Đây là cơ sở dữ liệu chứa những thông tin cơ bản về các công trình khoa học có phản biện quốc tế đăng trên một vạn tạp chí hàng đầu, bao quát mọi ngành khoa học, kỹ thuật, xã hội, nhân văn và nghệ thuật.
Tuy không đâu quy định chính thức, song ISI được giới khoa học khắp nơi xem như chuẩn mực, một bộ lọc bảo đảm chất lượng đội ngũ nghiên cứu khoa học, qua đây khẳng định chỗ đứng của nhà khoa học trên mặt tiền thế giới.
Các tổ chức quốc tế cũng dựa vào số bài báo có phản biện quốc tế và số bằng sáng chế để xếp hạng đại học, trình độ khoa học và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Cách làm này chưa thể xem là tuyệt hảo, song tương tự như GDP, tuy còn khiếm khuyết vẫn được dùng làm thước đo sức mạnh của nền kinh tế. Cho nên né tránh các diễn đàn khoa học quốc tế chẳng khác nào vận động viên cấp quốc gia chê đấu trường Olympic.
Mãi gần đây, công bố quốc tế mới được dùng làm căn cứ để đánh giá các đề tài khoa học cơ bản. Nhưng công bố quốc tế lại không đòi hỏi đối với các nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật, xã hội, nhân văn chiếm hầu hết ngân sách và nguồn nhân lực khoa học của đất nước, lại có tác động trực tiếp đến quốc kế dân sinh.
Các ngành xã hội nhân văn chiếm ba phần tư số ấn phẩm khoa học nội địa hầu như không có mặt trên các tạp chí quốc tế. Các kết quả nghiên cứu này đúng sai đến đâu, rất khó biết. Trong nhiều thập kỷ gần đây diện mạo khoa học xã hội nhân văn trên thế giới đã thay đổi hoàn toàn nhờ có sự xâm nhập của toán học và các khoa học tự nhiên.
Nhiều hướng nghiên cứu đa ngành xuất hiện, khoa học tự nhiên và xã hội đan xen nhau, không thấy đâu phân chia riêng rẽ như ở ta. Khoa học xã hội nhân văn của ta đang lạc lõng khỏi thế giới.
Vì sao cho đến nay các diễn đàn khoa học quốc tế không được chấp nhận? Trong số các giáo sư được bổ nhiệm mấy năm gần đây chỉ những người làm Toán và Vật lý có 4-5 bài báo quốc tế trở lên, đa số những giáo sư nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật và xã hội, nhân văn chỉ công bố công trình trong nước.
Nhiều người trong số này lập luận rằng nghiên cứu ứng dụng cốt mang lại lợi ích kinh tế thiết thực, cần gì những mục tiêu hàn lâm. Lập luận này phù hợp với quan điểm nhiều người trong giới quản lý và các cơ quan cấp kinh phí, nên có tác động đến chính sách.
Trên thực tế rất khó đánh giá một công trình nghiên cứu mang lại “lợi ích kinh tế thiết thực” bằng cách nào (xem phần sau). Vả lai, trong số hàng triệu công trình nghiên cứu hàng năm trên thế giới chỉ một số rất ít có tiềm năng trực tiếp tạo ra những ứng dụng nào đó.
Trong khi đó, nghiên cứu khoa học có sứ mạng tìm ra tri thức mới, mà cái mới lại rất dễ khẳng định qua bài báo có phản biện quốc tế. Những khám phá trong khoa học cơ bản là tri thức mới đã đành, những quy luật tự nhiên, xã hội ở Việt Nam mà thế giới chưa biết, những phiên bản ứng dụng có thêm phát hiện mới trong điều kiện cụ thể ở nước ta … vẫn cứ rất mới với thế giới, miễn là nhà khoa học phải am tường mọi kết quả nghiên cứu và phương pháp luận hiện đại nhất, từ đó tìm được chỗ đứng dành cho kết quả nghiên cứu của mình trên mặt tiền khoa học.
Cũng phải thừa nhận rất khó tìm được chỗ đứng trên mặt tiền khoa học nếu không có thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Chính khó khăn này giải thích tại sao công bố quốc tế của Việt Nam nghiêng hẳn về Toán và các môn lý thuyết.
Số bài báo quốc tế về khoa học thực nghiệm, ứng dụng và kỹ thuật quá ít, không tương xứng với quy mô nhân lực và đầu tư, và ít hơn hẳn các nước xung quanh như Thái Lan, Malaysia.

Bước đột phá trong chiến lược KH-CN 2011-2020

Gần đây lãnh đạo Bộ KHCN đã tạo ra bước đột phá rất đáng mừng, chính thức khẳng định công bố quốc tế là thước đo năng lực nghiên cứu khoa học của đất nước. Chiến lược KH-CN 2011-2020 (sau đây gọi tắt là Chiến lược) nêu rõ mục tiêu (thứ hai) tăng số lượng công bố quốc tế từ các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước trung bình 15-20%/năm. Mục tiêu thứ năm lại ghi rõ đến năm 2020 hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giớí.
Tăng số lượng công bố quốc tế 15-20%/năm là mục tiêu hoàn toàn khả thi, Ngay trong mười năm 2000-2009 chúng ta đã đạt tốc độ 15-16%/năm, ngang với Thái Lan và Malaysia, chỉ kém Trung Quốc (20%/năm), nhưng nhanh hơn Philippines và Indonesia (5,7%/năm).
Song số lượng công bố quốc tế chưa phản ảnh đầy đủ năng lực nghiên cứu và hiệu quả đầu tư cho khoa học của một quốc gia. Phân tích các công bố quốc tế của Việt Nam và 11 nước Đông Á cho thấy chất lượng các bài báo (dựa trên chỉ số trích dẫn trung bình) của Việt Nam còn thấp, nhiều ngành trực tiếp liên quan đến quốc kế dân sinh chưa có công bố quốc tế, và phần lớn đồng tác giả Việt Nam không đóng vai trò chính trong các công trình.
Số công trình do nội lực chỉ chiếm 30%, vào loại thấp nhất khu vực, so với 90% ở Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan (xem bài “A comparative study of research capability of East Asian countries and implication for Vietnam” đăng trên Higher Education, Vol. 60, trang 615-625, bản dịch tiếng Việt trên Tia Sáng, 22/06/2010).
Bước đột phá trong “Chiến lược” sẽ đưa chúng ta thoát khỏi tình trạng lạc lõng bấy lâu nay để sớm sánh vai với các nước, nhanh chóng tiếp cận mặt tiền khoa học. Song muốn đạt được các mục tiêu trong “Chiến lược” cần có những đột phá mới để khoa học Việt Nam khỏi bị mắc kẹt trong những tư duy, cơ chế và cơ cấu tổ chức bất cập hiện nay.

Hành chính hóa hoạt động nghiên cứu khoa học

Chỉ bám vào nguồn kinh phí duy nhất từ ngân sách nhà nước, lại thiếu chuẩn mực nghiêm túc, hoạt động nghiên cứu khoa học rơi vào tình trạng hành chính hóa, do các quan chức hành chính cầm cân nẩy mực.
Họ là những người chưa hề nghiên cứu khoa học, hoặc nếu xuất thân từ giới khoa học, họ sẽ ném ngay “hòn gạch gõ cửa” sau khi lọt vào chốn quan trường (Lỗ Tấn, Khổng Phu tử ở Trung Quốc đời nay, bản dịch Phan Khôi). Đối với nhiều người trong số họ, khoa học giờ đây chỉ còn là chiếc áo khoác bên ngoài, bên trong là danh, quyền và tiền, những cạm bẫy rất ít ai thoát khỏi.
Hành chính hóa nghiên cứu khoa học đặt ra luật chơi hành chính. Đề tài các cấp vận hành theo kiểu hợp đồng kinh tế như ra đầu bài, đấu thầu, tuyển chon, kiểm tra tiến độ v.v…Kinh phí được quyết toán dựa trên số ngày công khai báo cho từng thành viên tham gia, số trang dịch thuật, tiền thuê mướn nhân công, vật tư, hóa chất tiêu hao v.v…
Sản phẩm phải mục sở thị như quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn nhà nước, phần mềm, số cơ sở sử dụng các kết quả v.v…. Để được nghiệm thu lại phải có đầy đủ các chứng từ, hóa đơn thanh toán hợp “lệ”. Chỉ có bài báo quốc tế là không đòi hỏi.
Bởi bài báo quốc tế yêu cầu cao hơn hẳn. Đó là phát hiện mới (new findings), tính độc đáo (originality), góp phần đẩy hướng nghiên cứu lên phía trước (significant advances in field) và phương pháp luận hiện đại (state-of- the art approach).
Không cần hội đồng đông người, chỉ một trong hai phản biện lắc đầu, bài báo sẽ bị từ chối. Rõ ràng từ đề tài được Bộ KH-CN nghiệm thu đến bài báo quốc tế được chấp nhận là một khoảng cách rất xa, đầy thách thức, nhiều người đành bỏ cuộc vì không còn kinh phí và thời gian, họ phải lao tiếp vào đề tài mới để tồn tại.
Song những đề tài, luận án nói trên lại được dùng làm căn cứ bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư. Theo Quy chế, giáo sư phải hướng dẫn chính ít nhất hai nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chủ trì ít nhất một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ hoặc đề tài cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.
Các tân giáo sư sẽ được phân vai mới trong hệ thống hành chính, chủ trì các đề tài, dự án, chương trình nhà nước, có tiếng nói nặng cân hơn trong các hội đồng xét duyệt và nghiệm thu. Cuộc chơi trên sân nhà có thêm vai diễn mới, không thấy hồi kết.
Hành chính hóa nghiên cứu khoa học bộc lộ nhiều lỗ hổng làm nơi ẩn chứa cơ chế xin cho, ban phát, vốn là sản phẩm của thời bao cấp. Thời nay, mỗi đề tài, dự án cấp Bộ trở lên thường được cấp từ hàng trăm triệu đến hàng chục tỷ đồng, nên không còn ai ban phát vô tư nữa, kẻ cho người nhận đều phải biết hành xử theo “luật thị trường”.
Có hội đồng khoa học để xét duyệt và nghiệm thu, nhưng hội đồng lại do chính bộ máy hành chính lập ra để dễ dàng hợp thức hóa các ý định của mình. Hội đồng chỉ bàn về học thuật không tham gia xét duyệt kinh phí cho đề tài, việc này thường được dàn xếp giữa người ban phát và người nhận. Tiếng nói chính trực thường là thiểu số và sẽ không có cơ hội trong các lần sau.
Dễ hiểu tại sao nạn gian dối – điều tối kỵ nhất trong khoa học – lại lên ngôi trong những năm gần đây. Khai gian, khai khống các khoản chi là chuyện thường tình. Mọi người đều gian dối nên không ai phải xấu hổ. Bịa số liệu, đạo văn, thuê viết luận án …ngày càng phổ biến.
Nhóm lợi ích hình thành qua các đề tài dự án, che chắn nhau rút ruột kinh phí nhà nước. Phi chuẩn mực và hành chính hóa làm cho môi trường học thuật ở nước ta ngày một tù mù, vàng thau lẫn lộn, nghiên cứu khoa học trở nên tùy tiện, đề tài nào, công trình nào cũng xem là nghiên cứu, hội thảo nào cũng có thể gán thêm mác khoa học. Báo chí và xã hội không phân biệt được thực và giả, nhà khoa học đích thực với những người khoác áo khoa học.
Từ môi trường học thuật này không thể xuất hiện đỉnh cao mà chỉ có số đông làng nhàng, thiếu chuyên nghiệp. Lao vào quan trường là con đường tiến thân độc đạo, số người theo đuổi học thuật đến cùng hiếm dần, thành phần ưu tú ngày càng vắng bóng trong lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học và ngay ở những cơ quan đầu não về KH-CN. Rất đông tài năng trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài không tìm thấy đất dụng võ khi trở về nước. Thực trạng này liệu các nhà lãnh đạo có biết?

Không thành công trong nội địa hóa công nghệ

Nhà nước có chủ trương nội địa hóa công nghệ, nhưng thiếu quyết sách. Hàng điện tử và công nghệ cao là mũi nhọn xuất khẩu, dự kiến đến 2020 kim ngạch lên đến 45% để minh chứng cho mục tiêu công nghiệp hóa theo hướng hiện đại của đất nước. Riêng chín tháng đầu năm 2012 kim ngạch xuất khẩu lên đến 15 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch.
Song phần lớn là sản phẩm từ các doanh nghiệp nước ngoài, và đằng sau những con số ấn tượng trên là một sự thật ê chề: “trong mặt hàng này các doanh nghiệp Việt Nam nhập 100% linh kiện nước ngoài…, phần nội địa hóa chỉ là vỏ nhựa, thùng các tôn và xốp” (SGGP, 25/9/2012).
Về cơ khí, nội địa hóa công nghiệp ô tô trong hơn hai thập kỷ qua chỉ đạt vài phần trăm (Vneconomy, 03/07/2012), xem như thất bại. Công bằng mà nói, thành tích nội địa hóa công nghệ ấn tượng nhất chính là mấy con tàu trọng tải 50 nghìn tấn được VINASHIN cho hạ thủy và xuất khẩu. Nhưng VINASHIN vỡ nợ, gây hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Các học giả có dịp ném đá vào đống đổ nát mà ít ai quan tâm nhặt ra từ đó bài học nội địa hóa công nghệ thành công hay thất bại.
Có nhiều lợi thế hơn VINASHIN, nhưng TKV và EVN cũng không chịu nội địa hóa công nghệ. Theo Quyết định 167/2007/QĐ- TTg, hàng chục nhà máy chế biến alumina sẽ được xây dựng từ năm 2007 dến 2025 trên Tây Nguyên, nhưng không có từ ngữ nào nhắc đến lộ trình nội địa hóa công nghệ, trong khi Việt Nam sở hữu một tiềm năng bô xít lớn thứ năm thế giới.
Chính phủ cũng không yêu cầu TKV hứa hẹn đến bao giờ sẽ có công nghệ Việt Nam. Mẻ alumina đầu tiên đang chậm tiến độ hơn hai năm, và trên thực tế cả đại dự án bô xit đang gặp bế tắc, chính phủ phải rút quy mô chỉ còn hai nhà máy thí điểm. Một kết quả nhãn tiền, bởi không chỉ công nghệ, mà cả khoa học cũng đứng ngoài. Bao nhiêu bài toán kinh tế, kỹ thuật, môi trường, xã hội … chưa được nghiên cứu thấu đáo trước khi ra Quyết định.
Hàng chục nhà máy điện chạy than được EVN xây dựng trên khắp cả nước đều rơi vào tay nhà thầu nước ngoài. Không biết đến bao giờ mới thấy tua bin và máy phát điện do người Việt tự chế tạo. Trong khi đó, EVN đi tắt đến thẳng điện hạt nhân, đề xuất đưa vào vận hành hàng chục lò phản ứng từ 2020 đến 2030.
Nhiều ý kiến phản bác hoặc đề nghị đình hoãn kế hoạch mạo hiểm này sau khi xảy ra thảm họa Fukushima. Nhưng chúng đều lọt thỏm trong luồng dư luận phải làm điện hạt nhân mới có quốc phòng mạnh, mới có nước Việt Nam hiện đại vào năm 2020.
Thành ra hiện đại hay không là ở người tiêu dùng. Nói nôm na, với chiếc iphone 5S bên tay lái Mercedes ngày một phổ biến trên các xa lộ nước ta, người Việt cũng hiện đại không kém người Mỹ, người Đức. Đó là nhờ ta biết đi tắt đón đầu, đúng như lời một vị Bộ trưởng dõng dạc thuyết phục Quốc Hội trước đây ba năm: “xây dựng đường sắt cao tốc Bắc -Nam chính là phương án đi tắt đón đầu lên thẳng hiện đại”.

Không có bằng sáng chế

Không có sản phẩm từ công nghệ Việt Nam, bằng sáng chế cũng không có nốt. Việt Nam hầu như không có bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ (US Patent and Trademark Office, US PTO). Trong khi đó, năm 2011 Indonesia và Philippines sở hữu hàng chục bằng, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc còn nhiều hơn gấp bội.
Báo chí đổ lỗi cho 9000 giáo sư/ phó giáo sư (VietNamNet, 5/11/2012) khiến mọi người có dịp mang các vị ra đàm tiếu mà không biết rằng nghiên cứu khoa học khác nghiên cứu công nghệ. Sản phẩm nghiên cứu khoa học là tài sản chung cho mọi người cùng sử dụng, bằng sáng chế là bí quyết công nghệ của doanh nghiệp được bảo vệ và mua bán thông qua cơ quan đăng ký. Chính doanh nghiệp, chứ không phải tác giả, phải bỏ tiền ra để đăng ký bằng sáng chế và hưởng lợi từ việc mua bán nầy.
Đâu phải làm thơ, nhà khoa học lấy đâu ra bằng sáng chế khi doanh nghiệp không yêu cầu. Thiếu bằng sáng chế chứng tỏ trình độ quá thấp của nền công nghiệp nước nhà. Chúng ta chỉ du nhập công nghệ từ nước ngoài để sản xuất, mà không nội địa hóa để có công nghệ của mình. Nếu cần thay thế công nghệ, doanh nghiệp sẽ đi mua, hơn là đầu tư nghiên cứu.

Tư duy ăn xổi

Dù sao, thiếu bằng sáng chế cũng đặt ra dấu hỏi về tính thiết thực và hiệu quả của nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam hai thuật ngữ khoa học và công nghệ luôn gắn với nhau, thậm chí đồng nhất với nhau trong cùng một khái niệm như thị trường khoa học công nghệ, hội chợ khoa học công nghệ v.v…
Chính sự nhập nhằng này trong tư duy làm cho nghiên cứu công nghệ đích thực vẫn là bãi đất trống. Đây là hệ quả của tư duy ăn xổi, muốn nghiên cứu khoa học phải cho ra ngay sản phẩm trên thị trường.
Khoa học và công nghệ hỗ trợ lẫn nhau, nghiên cứu khoa học tạo ra mảnh đất cho công nghệ phát triển, và ngước lại. Tuy nhiên ngay trong số hàng triệu bài báo khoa học công bố hàng năm trên thế giới, rất ít công trình có tiềm năng tạo ra công nghệ hay dịch vụ.
Nếu có, còn phải trải qua nhiều khâu, đòi hỏi thời gian, công sức và kinh phí. Kết quả nghiên cứu phải được kiểm nghiệm và củng cố bằng nhiều nghiên cứu mới tiếp theo, bảo đảm chất lượng (QA), prototype, quy mô pilot, thử sai (trial by error) nhiều lần trước khi đưa ra ứng dụng.
Tư duy ăn xổi bỏ qua các khâu quan trọng này, nên nghiên cứu khoa học sinh ra những đứa trẻ đẻ non, chết yểu, làm thất thoát nguồn kinh phí lớn của nhà nước.
Bao nhiêu đề tài chế tạo thiết bị với tính năng “chẳng kém nước ngoài”, nhưng chỉ là đơn chiếc mang trưng bày ở triển lãm, hội chợ, sau vài năm mất hút. Số trẻ đẻ non, chết yểu này nhiều lắm, cứ chọn ra một số đề tài, dự án lớn được Bộ KHCN nghiệm thu từ 5 đến 10 năm trước đây sẽ thấy ngay.
Tư duy ăn xổi không thể tạo ra những đỉnh cao khoa học, những hướng nghiên cứu mũi nhọn có thể sớm bứt phá lên mặt tiền khoa học thế giới. Các quan chức muốn thấy thành tích ngay trong nhiệm kỳ của mình, lại phải ban phát, rải đều quả thực cho mọi người, năm nay anh có đề tài, sang năm đến lượt anh khác, người làm khoa học giống như dân du canh, không chuyên sâu vào một hướng nhất định.
Trong khi đó, khoa học phát triển được nhờ tích lũy và kế thừa, công trình đẻ ra công trình, thành công lẫn thất bại trong công trình trước đều để lại dấu ấn trong các công trình sau. Biết tích lũy và kế thừa, tri thức sẽ tăng tốc theo cấp số nhân, được lưu lại trong đầu con người qua các thế hệ, trở thành một dạng chứng khoán (stock) của các doanh nghiệp, thành truyền thống của phòng thí nghiệm và hình hài của nền khoa học.
Qua cơ chế tích lũy và kế thừa, người tài mới xuất hiện, người khác đứng trên vai họ (stand on the shoulder of giants) để nhìn rõ chân trời phía trước. Nhờ đó các nhóm nghiên cứu mạnh được hình thành và phát triển, các thế hệ khoa học sinh ra và trưởng thành nối tiếp nhau.
Theo “Chiến lược”, năm 2020 nước ta sẽ có 60 nhóm nghiên cứu mạnh. Hy vọng họ, và những người lãnh đạo của họ, sẽ làm nên hình hài nền khoa học nước nhà. Thế giới sẽ biết khoa học Việt Nam qua họ. Các thế hệ tương lai sẽ nhớ đến thế hệ hiện nay qua các công trình khoa học của họ.

Mấy bước đột phá thay lời kết

Chỉ cần cố gắng làm giống như các nước khác, KH-CN Việt Nam sẽ thoát ra khỏi tình trạng hiện nay. Nghiên cứu khoa học chỉ được xem là đích thực khi tìm ra tri thức mới. Những người cầm quân, như giáo sư, chỉ được bổ nhiệm khi có chỗ đứng nhất định trên mặt tiền khoa học.
Công bố quốc tế phải được dùng làm thước đo thay cho các chuẩn mực hành chính. Làm được những việc này sẽ tạo ra bước đột phá lớn đẩy lùi tệ nạn xin cho, ban phát và những tiêu cực trong môi trường học thuật hiện nay.
Sản phẩm nghiên cứu khoa học là đỉnh cao văn hóa, làm tăng vốn tri thức của đất nước, tác động đến chính sách và nâng cao mặt bằng dân trí, từ đó tạo nên sức mạnh tác động đến phát triển kinh tế xã hội. Trường đại học là nơi gánh vác tốt nhất sứ mạng này.
Từ trường đại học tri thức khoa học lan tỏa ra cộng đồng, do đó phải tạo điều kiện tốt nhất để sinh viên – những người lan tỏa tri thức – được tiếp thu tri thức mới trực tiếp từ những nhà khoa học có chỗ đứng trên mặt tiền khoa học.
Nghĩa là phải ưu tiên tập trung nghiên cứu khoa học về các trường đại học và xây dựng lên tại đây những nhóm nghiên cứu mạnh. Chúng ta đã bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội rồi, giờ đây không được chậm trễ nữa.
Nghiên cứu công nghệ khác với nghiên cứu khoa học và cần có chỗ đứng trong phát triển kinh tế. Nên cho qua đi niềm tự hào Việt Nam là nơi thu hút vốn FDI, ODA nhiều nhất, thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất….
Không thể mãi mãi làm người tiêu thụ mà phải bước lên bục cao hơn của những người tạo ra tiện ích cho xã hội. Con đường duy nhất là nội địa hóa công nghệ, sau đó tiến lên đổi mới để cạnh tranh.
Cho nên rất cần một quyết sách từ phía nhà nước, đừng để doanh nghiệp mãi chạy theo lợi nhuận trước mắt mà quên lợi ích lâu dài của dân tộc. Và sau quyết sách là tầm nhìn và trách nhiệm của những nhà lãnh đạo KH-CN. Bởi tìm ra cách đi hợp lý trước trăm bề ngổn ngang hiện nay, thật không dễ chút nào.
GS Phạm Duy Hiển
Posted in Education/Research/S&T policy | Leave a comment

các phương pháp ab initio

Như đã nói ở phần trước, phần này ta sẽ tìm hiểu về các phương pháp ab initio dùng để giải phương trình Schrodinger một cách tổng quát. Các phương pháp này được liệt kê với tên gọi như sau:

– Phương pháp tự hợp Hartree-Fock(Hartree-Fock self consistent Field) và phương trình Roothaan

– Phương pháp nhiễu loạn

– Phương pháp biến phân

– Phương pháp cấu hình (configuration Interaction, CI)

– Phương pháp phiếm hàm mật độ (Density Functional Theory. DTF)

Sau đây ta sẽ xem xét chi tiết về lời giải cho từng phương pháp

Trước khi đến với chi tiết của các phương pháp, ta cần xem xét các thông tin về cấu hình và trạng thái của hệ nhiều electron, cùng với bộ hàm cơ sở của nó.

Về cấu hình của hệ nhiều electron, ta có thể xem xét kỹ hơn trong các sách về vật lý lượng tử, cấu hình của hệ nhiều electron được thể hiện bằng 3 thông số : độ bội – 2S+1 (multipliciply), momen góc của các orbital – L (total orbital angular momentum), tổng momen góc điện tử – J=|L-S|-|L+S| (total electronic angular momentum)

S=sigma(si) là tổng spin của các điện tử trong hệ

L=sigma(li) là tổng các chỉ số chỉ ô trống trong phân bố của orbital, S thì li=0, p thì Li=-1, 0, 1; d thì li=2, 1, 0, -1, -2….

cấu hình của hệ được xem xét nhiều ở độ bội, với hệ có nhiều electron tự do thì số electron độc thân tương ứng như sau: 0→S=0→2S+1=1→ singlet

1→S=1/2→2S+1=2→ doublet

2→S=1→2S+1=3→ triplet

3→S=3/2→2S+1=4→quater

4→S=2→2S+1=5→ quintet

tương đương với cấu hình vỏ đóng-closed shell- singlet; vỏ mở – open shell-doublet; hạn chế- restricted- tương ứng với hệ vỏ mở or trạng thái kích thích- ROHF-restricted of Hartree-Fock; cấu hình không hạn chế-unrestricted-không suy biến năng lượng- UHF-unrestricted Hartree-Fock.

Bộ hàm cơ sở là tập hợp các atomic orbital cơ sở dụng trong tổ hợp tuyến tính các orbital nguyên tử LCAO, gồm 3 loại:

bộ cơ sở hóa trị-valence basic sets; bộ cơ sở tối thiểu-minimal basic sets; bộ cơ sở mở rộng-extended basic sets.

Trong phương pháp tính cấu trúc electron người ta thường dùng các AO đơn giản hơn như AO kiểu Slater (STO: Slater Type Orbitans) và các AO kiểu Gauss (GTO: Gaussian Type Orbitals).

với đặc điểm các kểu cấu trúc AO dạng hàm sóng ở các vị trí biến khi r tiến đến 0 hay đến vô cùng, người ta dùng tổ hợp tuyến tính các hàm STO và GTO thu được hàm GTO rút gọn bằng phương pháp rút gọn từng phần or toàn phần, khai triển các tổ hợp của cúng ta có được rất nhiều bọ hàm cơ sở, một trong số đó là bộ hàm cơ sở thường dụng nhất là bộ hàm cơ sở kiểu Pople, gồm bộ cơ sở STO-nG; k-nmlG; bộ hàm tiêu chuẩn lớn nhất kiểu pople là 6-331++G.

– Phương pháp tự hợp Hartree-Fock và phương trình Roothaan

Posted in Education/Research/S&T policy | Leave a comment

Phương trình Schrodeinger trong hệ nhiều electron và proton, xấp xỉ Bohr-Oppenheim

Bài toán giải phương trình Schrodinger tìm hàm sóng của các hạt trong nguyên tử, phân tử được phân ra làm nhiều hướng và các hướng đó được gọi là phương pháp ab initio, các bài sau sẽ nói nhiều về phương pháp này, còn ở đây xin được xây dựng phương trình Schrodingervà toán tử Halmiton cho hệ nhiều electron và proton.

(trước đây đọc các báo nhiều lần nhắc đến tên phương pháp này cũng như phương pháp M matrix mà không hiểu là nói về cái gì, sau mấy ngày đọc hiểu cố gắng thì cũng mày mò ra được một ít, thiết nghĩ là ghi tạm ra đây để mình không quên cũng như có ai đọc được và dùng được nó cũng là một điều có ích.

Như đã nói ở trên, phương trình Schrodinger rất nổi tiếng trong cơ học lượng tử, là phương trình gốc để tìm ra các hàm sóng của các hạt vi mô. Hiện nay thì phương trình này mới chỉ được giải chính xác với nguyên tử Hydro còn các nguyên tố khác đều được giải một cách gần đúng, nguyên tử-phân tử có số khối càng lớn thì khả năng giải tìm hàm sóng của các hạt càng thấp.

Phương trình Schrodinger được bắt đầu bằng toán tử Hamilton, tác động lên hàm sóng sẽ bằng với tích của năng lượng của hệ và hàm sóng đó. Như vậy là phương trình Schrodingercó biến số là hàm sóng và thành phần quan trọng là toán tử Hamilton. Năng lượng E của hệ nói chung là khó xác định, với nguyên tử Hydro thì người ta dùng khái niệm Rydberg (Ry) chỉ năng lượng ground của nguyên tử tại đó electron cách tâm nguyên tử đúng bằng 1Ao/2 = 5,29.10^-11m là bằng 2 lần bán kính nguyên tử Bohr electron ở các lớp khác với n=1, 2, 3 thì năng lượng sẽ thay đổi và độ lệch năng lượng của E(h)=E-E(CoM) ( sẽ được giải thích chi tiết ở phần sau) bằng -Ry/n^2=13.6/n^2 eV.

Sau đây ta giới thiệu một cách chi tiết về sự thành lập toán tử Halmiton cho một hệ tổng quát có N electron và M proton.

Phương trình Schrodinger:

Ĥ ψ(x1 , x2 ,…, xN ,R1 ,R2 ,…,RM )= E ψ (x1 , x2 ,…, xN ,R1 ,R2 ,…,RM)

Toán tử Hamilton của hệ sẽ là:

Ĥ=-∑ (p=1→N) (Nabla(e)^2/mp) – ∑ (A=1→M) (Nabla(p)^2/mA) -∑(p=1→N) ∑ (A=1 →M)(ZA/rpA)+ ∑(A=1→M)∑(B=A+1→M) (1/R(AB)) + ∑(P=1→N)∑( q=p+1→N)( 1/r(pq))

Phương trình Schrödinger có dạng đơn giản hơn nếu áp dụng một số sự gần
đúng. Để ý rằng khối lượng electron nhỏ hơn hàng nghìn lần so với khối lượng hạt
nhân, nên coi các hạt nhân đứng yên tạo thành trường lực và electron chuyển động
trong trường lực đó. Đây là sự gần đúng Borh-Oppenheimer nổi tiếng. Khi đó động
năng của các hạt nhân triệt tiêu, còn thế năng tương tác đẩy giữa hạt nhân – hạt
nhân coi là hằng số C.

Lúc này toán tử Hamilton được gọi là toán tử Hamilton electron:

Ĥ=Ĥele=- ∑ (A=1→M) (Nabla(p)^2/mp)  -0+∑(p=1→N) ∑ (A=1 →M)(ZA/rpA) + C + ∑(P=1→N)∑( q=p+1→N)( 1/r(pq))

= Teˆ + V(Ne)ˆ +Teeˆ + C

Đặt h^p=-Nable(p)^2/2-∑(p=1→N)(ZA/rpA) – toán tử một e-mô tả chuyển động của electron thử p trong trường hạt nhân;

gpq=/rpq toán tử 2e- thể hiện tương tác đẩy e-e

Ĥele=- ∑ (A=1→M)(h^p)+∑(P=1→N)∑( q=p+1→N)(gpq)) +C

Lúc này, hàm sóng của hệ trở thành hàm sóng của hệ nhiều electron

Ψel (x1 , x2 ,…, xN) =χ1 (x1 ).χ2 (x2 )……..χN (xN )

Trong đó χi(i) được gọi là obitan-spin thứ i của electron thứ i, χi=ψi.η(σ). Còn ψi(vector) là hàm không gian; η(σ) là hàm spin (có thể là α hoặc β)

Phương trình Schrödinger tương ứng:

ĤeleΨel =ΕeleΨel

[- ∑ (A=1→M)(h^p)+∑(P=1→N)∑( q=p+1→N)(gpq)) +C]Ψel =ΕeleΨel

[- ∑ (A=1→M)(h^p)+∑(P=1→N)∑( q=p+1→N)(gpq)) ]Ψel =(Εele-C)Ψel

Như vậy trong sự gần đúng mô hình các hạt độc lập, Ψele là hàm riêng của
toán tử [- ∑ (A=1→M)(h^p)+∑(P=1→N)∑( q=p+1→N)(gpq)) ]
và trị riêng tương ứng là (Eele-C)

Posted in Education/Research/S&T policy | Leave a comment